Đăng ký tham quan

Các bạn có thể đăng ký tham quan trực tuyến bằng cách điền vào các thông tin sau và gửi cho chúng tôi:

Tính năng này Bảo tàng đang triển khai và hoàn thiện trong thời gian sắp tới. Để mua vé tham quan Bảo tàng, Quý khách vui lòng liên hệ đến số điện thoại:
024.38463757/

Trân trọng cảm ơn

Tìm hiểu về học vị Phó bảng của Cụ Nguyễn Sinh Sắc qua chế độ khoa cử xưa
Ngày đăng: 08:18 20/10/2020
Lượt xem: 85

Việt Nam là một quốc gia giàu truyền thống hiếu học và coi trọng nhân tài. Sự đề cao việc học, tôn vinh người thầy, coi trọng bậc hiền tài đã tạo nên truyền thống hiếu học hàng ngàn năm ở nước ta. Hiền tài được coi là tinh hoa của đất nước, nguyên khí của quốc gia. Dưới các triều đại phong kiến, để tìm ra và tuyển chọn bộ máy quan lại lãnh đạo đất nước chủ yếu thông qua chế độ khoa cử, tức là thông qua các kỳ thi để lựa chọn nhân tài. Việc lựa chọn nhân tài qua chế độ khoa cử không những góp phần hoàn thiện thể chế của một đất nước mà còn góp phần ổn định xã hội, thúc đẩy sự phát triển của quốc gia, dân tộc. 

1. Khái quát về chế độ khoa cử xưa

Chế độ khoa cử xuất hiện ở nước ta từ thế kỷ XI, mở đầu bằng khoa thi Ất Mão 1075 đời Vua Lý Nhân Tông kéo dài đến khoa thi năm 1919 đời Khải Định thì kết thúc. 
Hình thức thi gồm ba kì thi quan trọng bậc nhất được coi như ba cửa ải lớn để bước tới các bậc thang quan chức của các nho sĩ. Đó là thi Hương (Hương thí), thi Hội (Hội thí) và thi Đình (Đình thí). 
Thi Hương là kì thi được tổ chức để tuyển chọn người có tài, học rộng ở các địa phương. Đây là kỳ thi sơ khởi nhất, nội dung thi gồm 4 trường thi: Tứ thư, Ngũ Kinh; Chế, Chiếu, Biểu; Thơ, Phú và thi Văn sách. Những người đỗ 4 trường thi Hương được gọi là Hương Cống (Cử nhân); đỗ 3 trường là Tú Tài (tức Sinh Đồ, tên dân gian là Ông Đồ). Người đỗ đầu thi Hương được gọi là Giải nguyên.
Thi Hội là khoa thi quốc gia được tổ chức tại Kinh đô, ngay sau năm thi Hương; hình thức và nội dung giống như kỳ thi Hương. Trước năm 1442, thí sinh đỗ cả 4 kỳ được công nhận là trúng cách thi Hội, từ năm 1442 thí sinh đỗ thi Hội mới có học vị Tiến sĩ (tức Thái học sinh - tên dân gian là ông Nghè) và phải qua thi Đình để phân loại Tiến sĩ. Vào thời nhà Nguyễn những thí sinh thiếu điểm để đỗ tiến sĩ có thể được cứu xét và cho học vị Phó Bảng (Ất tiến sĩ). Người đỗ đầu trong khoa thi Hội gọi là Hội nguyên.
Thi Đình là kỳ thi cao nhất trong hệ thống khoa cử Nho học Việt Nam để chọn ra những người hiền tài bổ nhiệm các chức quan trong triều. Thi Đình được tổ chức tại sân Điện của Vua, Vua  là người ra đề và chấm thi cuối cùng. Thí sinh đỗ thi Đình được công nhận là Tiến sĩ, chia làm 3 bậc: Đệ nhất giáp Tiến sĩ cập đệ: (gọi là Tam khôi: gồm Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa); Đệ nhị giáp (Hoàng giáp); Đệ tam giáp (đồng Tiến sĩ xuất thân). Người đỗ đầu trong khoa thi Đình gọi là Đình nguyên.
Trong 844 năm phát triển (1075-1919), các triều đại phong kiến đã tổ chức 183 kì thi đại khoa, tuyển chọn 2.898 vị Tiến sĩ và Phó bảng. Đây là những nhân tài, người con ưu tú, những danh nhân văn hóa gắn bó với vận mệnh đất nước bằng tài năng và nhân cách của mình (1).

2. Học vị Phó bảng của Cụ Nguyễn Sinh Sắc

Nguyễn Sinh Sắc (1862-1929) sinh ra tại làng Kim Liên, xã Chung Cự, tổng Lâm Thịnh, nay là xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Thân phụ là cụ Nguyễn Sinh Nhậm, thân mẫu là cụ Hà Thị Hy. Xuất thân trong một gia đình nông dân, cha mẹ mất sớm, nên từ nhỏ Nguyễn Sinh Sắc đã có ý chí tự lập. Vốn chịu khó, thông minh và ham học nên Nguyễn Sinh Sắc đã được nhà nho Hoàng Xuân Đường xin về nuôi và cho ăn học.
Năm 1894 (Giáp Ngọ)  , Nguyễn Sinh Sắc dự kỳ thi Hương tại trường thi Nghệ An, dưới triều Nguyễn, niên hiệu Thành Thái thứ 6. Lần đi thi này, cụ đã đỗ Cử nhân khi 21 tuổi. Đến khoa thi Hội năm Tân Sửu 1901, niên hiệu Thành Thái thứ 13, lấy tên là Nguyễn Sinh Huy, cụ đỗ Phó bảng. 
Bảo tàng Hồ Chí Minh đã sưu tầm được hai tư liệu quan trọng. Một là: cuốn Quốc triều khoa bảng lục do Cao Xuân Dục biên soạn. Trong đó, ghi khoa thi Hội năm Tân Sửu năm 1901, niên hiệu Thành Thái thứ 13 có 9 người đậu chính bảng (Tiến sĩ), 13 người đậu Phó bảng. Nguyễn Sinh Sắc đậu Phó bảng thứ 11.
Tiến sĩ:
1. Nguyễn Đình Tuần Hiệp Hòa, Châu Lỗ, Bắc Ninh
2. Ngô Đức Kế           Trảo Nha, Thạch Hà, Hà Tĩnh
3. Nguyễn Viết Sinh Gia Lệ, Hương Thủy, Thừa Thiên.
4. Nguyễn Đình Điển Xuân Bồ, Nam Đàn, Nghệ An.
5. Trần Văn Thống La Hà, Minh Chánh, Quảng Bình.
6. Lê Ngãi                    Bình An, Mộ Đức, Quảng Ngãi
7. Nguyễn Duy Khuyến   Lý Hòa, Bố Trạch, Quảng Bình.
8. Lê Văn Tánh           Vụ Bản, Nam Định.
9. Nguyễn Văn Bản Hữu Bằng, Thạch Thất, Sơn Tây.
 
Phó bảng:
1. Nghiêm Chu Tuệ Hòa Xá, Sơn Lãng, Hà Nội.
2. Võ Tuần                    Lương Ngọc, Năng An, Hải Dương.
3. Nguyễn Đình Hiến Trung Lục Đông, Quảng Sơn, Quảng Nam.
4. Lê Đình Xán           Thanh Trì, Hà Nội.
5. Hoàng Đại Bỉnh           Xuân Lại, Phong Chú, Quảng Bình.
6. Đỗ Lương Thanh An Đại, Thượng Nguyên, Nam Định.
7. Võ Vi                    An Phú, Lệ Dương, Quảng Nam.
8. Nguyễn Mậu Hán Phú Cốc, Quảng Sơn, Quảng Nam.
9. Phạm Ngọc Đoan Hành Thiện, Giao Thủy, Nam Định.
10. Nguyễn Xuân Thưởng Dương Liễu, Thanh Châu, Nghệ An.
11. Nguyễn Sinh Huy Kim Liên, Nam Đàn, Nghệ An.
12. Nguyễn Duy Thiên Đa Ngọ, Văn Giang, Bắc Ninh.
13. Phan Chu Trinh Tây Lộc, Yên Phước, Quảng Nam.
 

 

Cuốn sách:"Quốc triều khoa bảng lục" . Bìa và tr.1. Chữ Hán.

Tư liệu thứ hai là: Phiên bản Mộc bản khắc về cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc - Di sản Tư liệu Thế giới do Trung tâm Lưu trữ Quốc gia IV tặng Bảo tàng
Hồ Chí Minh bằng chữ Hán Nôm được khắc ngược trên chất liệu Composit màu đen, có kích thước 31 x 21 x 2,5(cm), trên đó cho biết những thông tin xác thực về con đường khoa cử của cụ Nguyễn Sinh Sắc - thân sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
 

Mộc bản và bản khắc về cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc

Nguyên văn- Phiên âm:    
阮生色: Nguyễn Sinh Sắc           
南坛鍾巨: Chung Cự - Nam Đàn
二十一: Nhị thập nhất            
副榜:  Phó bảng
官平溪知縣: Quan Bình Khê Tri huyện.
    Dịch nghĩa: 
Nguyễn Sinh Sắc                                           Quê quán: Chung Cự, Nam Đàn (Nghệ An)
Đỗ Cử nhân năm 21 tuổi      
Đỗ Phó bảng                            
Làm quan chức Tri huyện Bình Khê.
 
Đây là hai tư liệu quan trọng xác thực ông Sắc thi đỗ kỳ thi Hội 1901 và đạt học vị Phó bảng.
Theo hệ thống khoa cử Việt Nam, Học vị Phó bảng (Ất tiến sĩ) có những đặc điểm như sau:
Thứ nhất, học vị này chỉ xuất hiện dưới triều Nguyễn, bắt đầu từ khoa thi Kỉ Sửu (1829) đời Minh Mạng.
Sở dĩ dưới triều Nguyễn mới lấy học vị Phó bảng bởi nhiều nguyên nhân. Sau khi thống nhất đất nước, nhà Nguyễn đứng trước nhu cầu cần phải xây dựng đội ngũ quan lại để quản lý đất nước từ Trung ương đến địa phương trên một lãnh thổ rộng nhất từ trước đến nay, vì thế phát triển giáo dục Nho học, tìm kiếm nhân lực bộ máy chính quyền là vấn đề cấp thiết. Tuy nhiên, việc phát triển giáo dục của nhà Nguyễn cũng gặp phải những khó khăn, nền giáo dục đã suy giảm do sự khủng hoảng của Nho giáo Việt Nam thế kỷ XVII – XVIII: học trò đi thi mua những bài làm sẵn, học thuộc lòng, giấu đem vào trường; quan trường nhận hối lộ; giới sĩ phu Bắc Hà ít chịu quy phục, tư tưởng “hoài Lê” vẫn còn in dấu khá đậm trong tâm tưởng của người dân Bắc Hà nên triều đình muốn trấn chỉnh lại. Mặt khác, triều đình lại thiếu nguồn nhân lực trí thức Nho học ở phía Nam và người Nam bộ vốn từ lâu đã ít quan tâm đến giáo dục khoa cử. Nhà Nguyễn có chính sách riêng, lấy thêm học vị Phó bảng cũng là một trong những chính sách đó nhằm không bỏ sót nhân tài (2).
Thứ hai, học vị Phó bảng được xác định cho những người đỗ kỳ thi Hội nhưng ít điểm hơn so với những người chính bảng.
 Để hiểu rõ hơn về danh hiệu Phó bảng của thời Nguyễn, chúng ta cần xem xét thêm về danh hiệu này ở Trung Quốc, nơi mà nền giáo dục khoa cử Nho học của Việt Nam chịu nhiều ảnh hưởng. Theo A.B. Woodside, ở Trung Quốc, Phụ bảng là danh hiệu có từ thời Thanh, được triều đình áp dụng đối với những trường thi Hương. Khi áp dụng vào Việt Nam, dưới thời Nguyễn học vị này là Phó bảng và được áp dụng với những trường thi Hội. Nếu ở Trung Quốc, Phụ bảng thấp hơn danh hiệu Cử nhân thì ở Việt Nam, Phó bảng thấp hơn danh hiệu Tiến sĩ nhưng lại cao hơn Cử nhân.
Thứ ba, học vị Phó bảng không được tham gia thi Đình, không vinh quy bái tổ bằng cờ, lọng tía, cân đai nhà vua. Kể từ khoa thi Hội năm Tân Sửu (1901), những người đậu Phó bảng bắt đầu được hưởng hai đặc ân của chính Bảng: được vua ban áo mũ, cờ, biển và cho hưởng lễ vinh quy bái tổ. 
Thứ tư, về chức quan: Sau khi thi đỗ, Phó bảng được triều đình bổ dụng vào bộ máy quan chức nhà nước. Chức vụ cao nhất mà những người xuất thân từ Phó bảng đã từng nắm giữ trong bộ máy triều đình thời Nguyễn là Thượng thư, hàm chánh nhị phẩm. Tri phủ, Đồng Tri phủ, Tri huyện, Đốc học là các vị trí được nhiều Phó bảng nắm giữ nhất. 
Với cụ Nguyễn Sinh Sắc, sau khi đỗ Phó bảng năm 1901, cụ cũng nhận được hai đặc ân: được vua ban áo mũ, cờ, biển và cho hưởng lễ vinh quy bái tổ. Trong lễ xướng danh, Cụ được vua Thành Thái tặng biển “Ấn tứ ninh gia” - Ơn ban cho gia đình tốt và cấp phương tiện đưa về đến Vinh.
Tổng đốc An Tĩnh lúc đó là Đào Tấn đã yêu cầu lý trưởng các làng thuộc xã Chung Cự huy động nhân dân đưa võng, lọng, cờ, trống lên tỉnh rước ông Phó bảng tân khoa về Kim Liên vinh quy bái tổ. Vốn là người không ham chuộng hình thức, danh lợi, cụ Sắc chỉ dự lễ đón tiếp chung do quan Tổng đốc tổ chức rồi không chờ dân làng đón rước mà tự đi bộ về nhà. Theo tập tục địa phương và nguyện vọng của bà con dòng họ Nguyễn Sinh, ông Sắc đã vinh quy tại làng Sen, nhân dân xã Chung Cự đã trích hai trăm quan tiền quỹ để ông làm cỗ ăn khao. Cụ chỉ nhận 10 quan tiền mua trầu, nước mời dân làng, còn lại cụ bàn với hội đồng kỳ mục đem chia cho những người nghèo đói trong làng làm vốn. Cụ còn thân hành xuống tận từng xóm hướng dẫn bà con lấy tiền đó mua nguyên vật liệu về làm nghề thủ công, lấy tiền sinh sống. Việc cụ Nguyễn Sinh Sắc không tổ chức ăn mừng khi thi đỗ, từ chối nghi lễ đón tiếp vinh quy, lại lấy một phần quỹ làng khao thưởng cho mình khi đậu Phó bảng để cung cấp cho các gia đình nghèo khổ là biểu hiện của tấm lòng thương dân cao cả, một giá trị văn hóa tốt đẹp trong đời sống của người Việt Nam. Sau khi đỗ Phó bảng, theo quy định triều đình, năm 1906 Cụ Sắc được bổ nhiệm chức Thừa biện bộ Lễ (phụ trách việc trường ốc); năm 1909 được bổ nhiệm chức tri huyện Bình Khê, Bình Định. 
Như vậy, Phó bảng là danh hiệu chỉ xuất hiện dưới triều Nguyễn, đóng góp của trên 240 vị Phó bảng, trong đó có cụ Nguyễn Sinh Sắc, người đã đỗ Phó bảng kỳ thi năm Tân Sửu 1901 dưới triều Nguyễn, là tấm gương về nghị lực, tinh thần hiếu học, yêu nước, thương dân. Mặc dù, đỗ đạt ra làm quan nhưng trước thời cuộc rối ren cụ vẫn chọn con đường “vì nước, vì dân”. Chính những điều đó đã có ảnh hướng lớn đến việc hình thành nhân cách, tinh thần yêu nước, sự lựa chọn con đường cứu nước của người con Nguyễn Tất Thành - Hồ Chí Minh sau này.
-------------------
(1) Theo Hội thảo Khoa học: Văn Miếu Quốc tử giám và Giáo dục Nho học Việt Nam, Trung tâm Hoạt động Văn hóa Khoa học Văn Miếu - Quốc Tử Giám tổ chức 26/11/2019.
(2) Đỗ Thị Hương Thảo: Chính sách Giáo dục thời Nguyễn tiếp cận từ danh hiệu Phó bảng, khoa Lịch sử trường Đại học Khoa học xã hội Nhân văn, 2013.
 

Nguyễn Thị Kim Thanh

Bảo tàng Hồ Chí Minh

 

Các bài viết khác

Mua vé trực tuyến
Đặt vé ngay
Hồ Chí Minh biên niên tiểu sử

Bảo tàng Hồ Chí Minh

Đăng ký nhận bản tin

Gửi