Ra đi tìm đường cứu nước năm 1911, trở về năm 1941, bốn năm sau thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa: 34 năm ấy đã ghi nhận quá trình chuyển biến về chất, đưa người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành trở thành người cộng sản Nguyễn Ái Quốc, thành lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và thành Chủ tịch Hồ Chí Minh. Bài viết tóm lược quá trình tìm đường cứu nước và lập nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh từ khi Người sinh ra đến năm 1945.
1. Nguyễn Sinh Cung - Nguyễn Tất Thành
Tháng 9-1901, sau khi đỗ Phó bảng, ông Nguyễn Sinh Huy đã làm lễ vào làng cho hai con trai, đổi tên con trai lớn Nguyễn Sinh Khiêm thành Nguyễn Tất Đạt, con trai bé Nguyễn Sinh Cung thành Nguyễn Tất Thành.
Khoảng tháng 9-1905, Nguyễn Tất Thành và Nguyễn Tất Đạt được cha xin cho theo học lớp dự bị (cours préparatoire) tại Trường Tiểu học Pháp - bản xứ ở thành phố Vinh, cách Kim Liên khoảng 14 km. Chính tại trường tiểu học này, Nguyễn Tất Thành lần đầu tiên được tiếp xúc với khẩu hiệu TỰ DO - BÌNH ĐẲNG - BÁC ÁI (Liberté, Égalité, Fraternité) của cách mạng Pháp. Điều đó thôi thúc Người sau này phải tìm đến tận nơi để tìm xem những gì ẩn giấu đằng sau những từ ấy.
Thời gian Nguyễn Tất Thành sống ở Huế tuy không dài (thiếu niên từ 1895 đến 1901 và thanh niên từ 1906 đến 1909) nhưng đó lại là thời gian đặc biệt ý nghĩa đối với nhận thức khởi đầu của một con người, đúng như cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã từng nhận định trong Thư gửi Hội nghị Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh do Tỉnh ủy Bình Trị Thiên tổ chức năm 1993: “Thời gian ở Huế là thời gian Nguyễn Tất Thành lớn lên và bắt đầu đi học. Những năm tháng đó là thời gian cực kỳ quan trọng đối với sự hình thành con người Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh... thời gian hình thành một con người lạ lùng, với một cuộc đời lạ lùng, những hoạt động lạ lùng đưa đến những thành tựu lạ lùng mà chúng ta ở Việt Nam đang nghiên cứu, đồng thời nhiều người ở nước ngoài cũng nghiên cứu, và sau này người ta còn nghiên cứu”(1) .
Mười năm lớn lên ở kinh đô Huế, được tiếp xúc với nền văn hóa mới, chịu tác động ảnh hưởng từ phong trào Duy Tân đã trang bị cho Nguyễn Tất Thành nhiều hiểu biết mới. Anh rất khâm phục và coi trọng tinh thần yêu nước của các bậc tiền bối đã liên tiếp nổi lên chống sự cai trị của thực dân Pháp, “nhưng không hoàn toàn tán thành cách làm của một người nào... Anh thấy rõ và quyết định con đường nên đi”(2) .
Kho Cơ sở Bảo tàng Hồ Chí Minh hiện lưu ba trang viết tay của Gia phả họ Võ ở Hàm Liên, huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận(3) . Ba trang này có tiêu đề: Viết về người bạn tâm giao. Bài viết kí tên Võ Quang Miệng, viết ngày 9-9-1969. Trong bài, ông Võ Quang Miệng (còn có tên là Mão, là Võ Văn Trang), kể rằng, ngày 19-8-1910, ông được các ông Nguyễn Trọng Lội, Nguyễn Huệ Chi, Hồ Tá Bang, những người sáng lập ra Hội Giáo dục Thanh niên thể dục thể thao, còn gọi là Dục Thanh (Phan Thiết) giao đưa xe ngựa đến Chùa Phước An ở xứ Duồng, gành Son gặp cụ Nghè Mô và sư thầy Bùi Hữu Hiền để đưa thầy giáo Nguyễn Tất Thành về dạy học ở Trường Dục Thanh.
.jpg)
Tàu Admiral Latouche Trévill, nơi Nguyễn Tất Thành làm phụ bếp khi rời Tổ quốc đi tìm đường cứu nước (tháng 6-1911). Ảnh: Bảo tàng Hồ Chí Minh.
Tháng 2-1911, Nguyễn Tất Thành rời Phan Thiết. Ngày 5-6-1911, với tinh thần: “Tôi muốn đi ra ngoài, xem nước Pháp và các nước khác. Sau khi xem xét họ làm như thế nào, tôi sẽ trở về giúp đồng bào chúng ta”(4) , Nguyễn Tất Thành lấy tên là Văn Ba, xin làm thuê trên con tàu Amiral Latouche Tréville (Đô đốc Latútsơ Tơrêvin), một tàu lớn vừa chở hàng vừa chở khách của hãng Chargeurs Réunis (Sácgiơ Rêuyni), còn gọi là hãng Năm Sao, từ cảng Sài Gòn, thành phố Sài Gòn (nay là Thành phố Hồ Chí Minh), rời Tổ quốc ra đi tìm đường cứu nước.
2. Từ Nguyễn Tất Thành đến Nguyễn Ái Quốc
Tới nước Pháp, ngày 15-9-1911, từ Marseille (Mácxây), với suy nghĩ: Muốn chống Pháp cần hiểu Pháp, cần học tập văn hóa, kĩ nghệ Pháp, Nguyễn Tất Thành viết đơn gửi Tổng thống và Bộ trưởng Thuộc địa Pháp xin vào học Trường Thuộc địa. Tuy nhiên, đơn của Người đã không được chấp nhận. Trong thư trả lời đề ngày 21-10-1911, ông Hiệu trưởng Trường Thuộc địa cho biết, Trường chỉ nhận những người được Toàn quyền Đông Dương giới thiệu(5) .
Sau vài tháng ở lại Pháp, năm 1912, Nguyễn Tất Thành xuống làm thuê cho tàu của hãng Chargeurs Réunis đi vòng quanh châu Phi. Người đã có dịp ghé bến cảng của nhiều nước châu Phi là: Angiêri, Tuynidi, Ai Cập, Mozambique, Madagascar, Réunion, Sênégal, Đahômây, Cônggô, Ghinê,...
Dọc đường đi, chứng kiến những cảnh khổ cực của nhân dân lao động dưới sự bóc lột của giai cấp tư bản, Nguyễn Tất Thành liên tưởng đến cuộc sống khốn khổ của đồng bào ở quê nhà. Người thấy rõ, ở đâu người dân mất nước cũng cùng chung số phận: Họ bị đọa đầy, bị áp bức, bóc lột, bị tước đi quyền sống. Người nhận rõ giai cấp công nhân và nhân dân lao động ở khắp nơi trên thế giới đều là bạn, chủ nghĩa tư bản, đế quốc đều là kẻ thù. Điều này làm Người rút ra kết luận: “Dù màu da có khác nhau, trên đời này chỉ có hai giống người: giống người bóc lột và giống người bị bóc lột. Mà cũng chỉ có một tình hữu ái là thật mà thôi: tình hữu ái vô sản”(6) .
Nguyễn Tất Thành tiếp tục theo con tàu tới Trung Mỹ, Nam Mỹ và đến nước Mỹ cuối năm 1912. Người lên bờ vừa đi làm thuê kiếm sống vừa tìm hiểu đời sống người dân Mỹ. Người dừng lại ở New York rồi tới thành phố Boston, hải cảng và thủ phủ của bang Massachusetts. Chính tại đây, Người đã đọc và nghiên cứu bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của nước Mỹ. Bản Tuyên ngôn Độc lập ấy đã tạo nguồn cảm hứng cho Chủ tịch Hồ Chí Minh, được Người trích mở đầu cho bản Tuyên ngôn Độc lập của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa năm 1945.
Sau bốn năm vừa làm thuê vừa tranh thủ trau dồi tiếng Anh ở nước Anh (1913-1917), cuối năm 1917, Nguyễn Tất Thành trở lại nước Pháp. Lúc này, cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất vẫn đang diễn ra ác liệt, đời sống nhân dân Pháp gặp nhiều khó khăn, khiến Nguyễn Tất Thành phải chật vật kiếm sống. Khi thì sửa ảnh thuê cho một hiệu ảnh, khi thì vẽ thuê cho một xưởng đồ cổ mỹ nghệ Trung Hoa, tuy nhiên Người vẫn hăng say hoạt động trong phong trào công nhân Pháp.
Khoảng đầu năm 1919, Nguyễn Tất Thành xin gia nhập Đảng Xã hội Pháp. Khi có người hỏi tại sao lại gia nhập Đảng này, Người trả lời: “Vì đây là tổ chức duy nhất theo đuổi lý tưởng cao quý của Đại cách mạng Pháp: Tự do, Bình đẳng, Bác ái”(7) .
Ngày 18-6-1919, đại biểu các nước đế quốc tham gia chiến tranh thế giới lần thứ nhất họp Hội nghị ở Versailles (Pháp). Lấy danh nghĩa đại diện Hội những người yêu nước Việt Nam tại Pháp, Nguyễn Tất Thành ký tên Nguyễn Ái Quốc dưới Bản yêu sách của nhân dân An Nam gửi tới Hội nghị. Yêu sách gồm tám điểm đề nghị Chính phủ Pháp thừa nhận các quyền tự do, bình đẳng, dân chủ tối thiểu cho nhân dân Việt Nam. Bản Yêu sách phản ánh nguyện vọng của nhân dân Việt Nam không được chính phủ Pháp và hội nghị của các nước đế quốc xem xét, dù nó đã có tiếng vang lớn đến người Việt Nam trong nước và nước ngoài.
Giữa lúc Nguyễn Ái Quốc đang bế tắc về con đường đi đến giải phóng cho nhân dân mình, Cách mạng Tháng Mười Nga đã nổ ra, mở ra một kỷ nguyên mới cho loài người: Kỉ nguyên thắng lợi của chủ nghĩa xã hội.

Bản yêu sách Tám điểm của nhân dân An Nam do Nguyễn Ái Quốc và nhóm người Việt Nam yêu nước gửi Nghị viện Pháp và các đoàn đại biểu dự Hội nghị Versailles (tháng 6-1919). Ảnh: Bảo tàng Hồ Chí Minh.
Tháng 7-1920, Nguyễn Ái Quốc đọc được bản Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của Lênin đăng trên báo L’Humanité (Nhân đạo), cơ quan ngôn luận của Đảng Xã hội Pháp. Luận cương có nhiều từ khó hiểu bởi trình độ chính trị còn non của Nguyễn Ái Quốc lúc bấy giờ. Tuy nhiên, Người hiểu điều Lênin nhấn mạnh nhiệm vụ của các Đảng Cộng sản là phải giúp đỡ thật sự phong trào cách mạng của các nước thuộc địa; nhấn mạnh sự đoàn kết giữa giai cấp vô sản ở các nước tư bản với quần chúng lao động của tất cả các dân tộc bị áp bức trên thế giới, để chống kẻ thù chung là đế quốc và phong kiến. Điều Lênin viết đã khai sáng cho Nguyễn Ái Quốc con đường giành độc lập cho dân tộc, tự do cho đồng bào. Người tìm thấy ở Lênin người lãnh đạo, người cổ vũ, người dẫn dắt cho dân tộc Việt Nam. Từ đó Người hoàn toàn tin theo Lênin, tin theo Quốc tế thứ ba. Điều đó khiến Người khi dự Đại hội Đảng Xã hội Pháp vào cuối tháng 12-1920, đã dứt khoát bỏ phiếu tán thành tham gia Quốc tế Cộng sản. Hành động đó đưa Người trở thành người sáng lập Đảng Cộng sản Pháp và đánh dấu bước ngoặt từ chủ nghĩa yêu nước chân chính đến với chủ nghĩa cộng sản, “từ một người yêu nước tiến bộ thành một chiến sĩ xã hội chủ nghĩa”(8) của Người.
Sau khi tìm thấy con đường cứu nước và trở thành người Cộng sản trong những năm sống và hoạt động tại Paris, Nguyễn Ái Quốc đã tranh thủ mọi diễn đàn, mọi cuộc thảo luận trong chi bộ hay đại hội Đảng để lên án chủ nghĩa thực dân, hướng mọi thảo luận về vấn đề thuộc địa. Tại Đại hội lần thứ nhất của Đảng Cộng sản Pháp họp ở Marseille (Mácxây) cuối năm 1921, Người phát biểu khẳng định sự ưu việt vượt trội của chủ nghĩa cộng sản: “chỉ có trong chủ nghĩa cộng sản người ta mới thấy tình hữu ái thực sự và quyền bình đẳng, và cũng chỉ có nó chúng ta mới có thể thực hiện sự hòa hợp và hạnh phúc ở chính quốc và các thuộc địa”(9) .
Nguyễn Ái Quốc sớm thấy sức mạnh của nhân dân thuộc địa khi được những người cộng sản tập hợp và lãnh đạo. Năm 1921, Người viết trong bài Đông Dương: “Đằng sau sự phục tùng tiêu cực, người Đông Dương giấu một cái gì đang sôi sục, đang gào thét và sẽ bùng nổ một cách ghê gớm khi thời cơ đến... Sự tàn bạo của chủ nghĩa tư bản đã chuẩn bị đất rồi: Chủ nghĩa xã hội chỉ còn phải làm cái việc là gieo hạt giống của công cuộc giải phóng nữa thôi”(10) .
Giữa năm 1921, để có thể thúc đẩy phong trào đấu tranh của nhân dân thuộc địa, được sự đồng ý của Đảng Cộng sản Pháp, Nguyễn Ái Quốc đã cùng một số các đại biểu thuộc địa vận động thành lập Hội Liên hiệp thuộc địa. Hội ra tờ báo Le Paria (Người cùng khổ) làm cơ quan ngôn luận, Nguyễn Ái Quốc được phân công làm chủ nhiệm kiêm chủ bút của báo. Từ khi ra đời đến khi phải đình bản, báo phát hành được 38 số. Tuy thời gian tồn tại không dài, song báo đã làm tốt vai trò người tập hợp, người cổ động cho phong trào đấu tranh của nhân dân các thuộc địa, góp phần truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin vào giai cấp công nhân ở các thuộc địa.
Bằng các hoạt động nhiệt tình, đầy hiệu quả ở Paris, giữa năm 1923, Nguyễn Ái Quốc đã được Đảng Cộng sản Pháp cử sang Liên Xô dự Đại hội lần thứ V của Quốc tế Cộng sản. Là người hiểu biết sâu sắc tình hình và đặc điểm các nước phương Đông và Việt Nam, Nguyễn Ái Quốc đã từng bày tỏ quan điểm: Tính chất cuộc đấu tranh giai cấp ở phương Đông không diễn ra quyết liệt như ở phương Tây; Người đề cao chủ nghĩa yêu nước và coi đó là động lực lớn của đất nước; Đồng thời gợi ý các nước cần thiết phải vận dụng sáng tạo, bổ sung và phát triển học thuyết Mác cho phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh đất nước mình.
Hơn một năm sống và làm việc tại Liên Xô (từ giữa năm 1923 đến cuối năm 1924), việc được theo học tại Trường Đại học Phương Đông và liên tiếp tham gia các đại hội như Quốc tế Nông dân, Quốc tế Thanh niên, Quốc tế Công hội đỏ, Hội nghị của tổ chức Quốc tế Cứu tế đỏ, Quốc tế Cộng sản... đã giúp Nguyễn Ái Quốc nâng cao nhận thức chính trị, trau dồi năng lực tổ chức. Việc Người được bầu vào Đoàn Chủ tịch Quốc tế Nông dân, được phát biểu tham luận tại các đại hội, được mời đi diễn thuyết tại các ngày kỷ niệm... chứng tỏ vai trò và uy tín ngày càng cao của Nguyễn Ái Quốc trong Quốc tế Cộng sản. Tuy nhiên những điều đó không làm sao nhãng mục tiêu chính của Người, bởi Người luôn kiên định khát vọng cháy bỏng: “Tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi, đấy là tất cả những điều tôi muốn, đấy là tất cả những điều tôi hiểu”(11) . Theo Người, để đạt được khát vọng đó, chỉ duy nhất một con đường, đó là phải có một tổ chức cộng sản ở Việt Nam.
3. Từ Nguyễn Ái Quốc đến Hồ Chí Minh
Nguyễn Ái Quốc được biết sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất, có nhiều thanh niên Việt Nam đang có mặt ở Quảng Châu, Trung Quốc. Họ yêu nước, ham hoạt động, nhưng chưa có tổ chức và người hướng dẫn. Nguyễn Ái Quốc lập tức đề đạt với Quốc tế Cộng sản được trở về Tổ quốc để tập hợp, tuyên truyền lực lượng này.
Sau nhiều lần đề nghị, cuối năm 1924, Quốc tế Cộng sản đã phân công Nguyễn Ái Quốc về Quảng Châu hoạt động với tư cách cán bộ Ban Phương Đông và Ủy viên Đoàn Chủ tịch Quốc tế Nông dân. Nguyễn Ái Quốc đã tranh thủ hai tư cách này để trực tiếp xúc tiến việc chuẩn bị các điều kiện thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam.
Về Quảng Châu, Người đã nhanh chóng tiếp xúc với những thanh niên Việt Nam hăng hái nhất trong tổ chức Tâm tâm xã, hướng dẫn họ hoạt động và dần tiến tới thành lập một tổ chức phù hợp, là Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên.
Đồng thời với việc ra báo Thanh Niên để tuyên truyền các tư tưởng cách mạng về trong nước, Nguyễn Ái Quốc đặc biệt quan tâm đến việc trang bị kiến thức lý luận chính trị cho các hội viên, nhất là những người trẻ tuổi mới ở trong nước sang. Người đã mở được ba lớp huấn luyện với 75 học viên. Các bài giảng của Người cho các lớp này sau được tập hợp trong cuốn Đường Kách mệnh.
Đường Kách mệnh xác định rõ mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, khẳng định con đường cách mạng Việt Nam phải trải qua hai giai đoạn, đó là dân tộc cách mệnh (quốc gia) và cách mạng xã hội chủ nghĩa (quốc tế). Đường Kách mệnh nêu lên mô hình nhà nước trong tương lai khi cách mạng thành công. Mặc dù đồng ý với tư tưởng dân chủ tiến bộ mà cách mạng Mỹ và cách mạng Pháp đã tuyên bố trong Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của Mỹ và Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Pháp năm 1791, nhưng theo Hồ Chí Minh: “Cách mệnh Pháp cũng như cách mệnh Mỹ, nghĩa là cách mệnh tư bản, cách mệnh không đến nơi”(12) , cái Người cần là xây dựng một nhà nước thật sự độc lập, nhà nước của đại đa số nhân dân. Người viết: “Chúng ta đã hy sinh làm cách mệnh, thì nên làm cho đến nơi, nghĩa là làm sao cách mệnh rồi thì quyền giao cho dân chúng số nhiều, chớ để trong tay một bọn ít người. Thế mới khỏi hy sinh nhiều lần, thế dân chúng mới được hạnh phúc”(13) .
Đại đa số các học viên sau lớp huấn luyện đều trở về Việt Nam hoặc Thái Lan hoạt động, trở thành các nhân tố tích cực tuyên truyền và tổ chức phong trào cách mạng.
Mùa Xuân năm 1930, khi thấy ba tổ chức cộng sản mới ra đời ở trong nước, đều lấy chủ nghĩa Mác-Lênin làm nền tảng tư tưởng, nhưng không đoàn kết thậm chí còn tranh giành ảnh hưởng lẫn nhau, Nguyễn Ái Quốc đã lấy danh nghĩa đại diện Quốc tế Cộng sản mời đại diện ba tổ chức cộng sản này họp tại khu vực Tống Vương Đài thuộc quận Cửu Long, Hồng Kông. Sau một tháng thảo luận, các đại biểu đã thống nhất hợp nhất thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Hội nghị đã thông qua các văn kiện như Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Chương trình tóm tắt, Điều lệ vắn tắt, Báo cáo tóm tắt hội nghị, Báo cáo gửi Quốc tế Cộng sản, Lời kêu gọi... trong đó Chánh cương vắn tắt xác định rõ chủ trương: “làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”(14) .
Việc Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đã đánh dấu sự chấm dứt giai đoạn khủng hoảng về đường lối cứu nước, mở ra thời kì thắng lợi cho dân tộc Việt Nam. Đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Việc thành lập Đảng là một bước ngoặt quan trọng trong lịch sử cách mạng Việt Nam ta. Nó chứng tỏ rằng giai cấp vô sản ta đã trưởng thành và đủ sức lãnh đạo cách mạng”(15) .
Tuy nhiên, việc thành lập được Đảng cộng sản ở một nước nông nghiệp kém phát triển đã là một kì tích, song việc dẫn dắt Đảng đó, giành được chính quyền, thực quyền lãnh đạo đất nước mới là điều khó khăn gấp bội.
Trong giai đoạn từ năm 1930 đến năm 1941, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc một mặt làm tốt những việc được Quốc tế Cộng sản giao, ghi dấu ấn tích cực với phong trào cộng sản ở Đông Nam Á, mặt khác, vì mang án tử hình do Tòa án Vinh tuyên năm 1929 nên chưa thể trực tiếp về nước chỉ đạo các phong trào cách mạng, Người chỉ có thể từ nước ngoài góp ý cho Trung ương ở trong nước. Nhưng ngay cả việc góp ý cũng bị hạn chế bởi thời gian này, những sáng tạo của Người về sách lược phân hóa, lôi kéo tầng lớp hữu sản hạng vừa và nhỏ trong Sách lược vắn tắt, điều mà hôm nay chúng ta cho là tuyệt vời, đã bị cấp trên ở Mátxcơva và một số đồng chí lãnh đạo Đảng khi đó cho là hữu khuynh và cần phải phê phán.
Trong thời gian đó, Người lại bị nhà cầm quyền Anh bắt giam ở Hồng Kông. Nhờ đấu tranh tự bảo vệ, nhờ tài bào chữa của luật sư Loseby (Lôdơbi) cùng các cộng sự và bản chất là Người không vi phạm luật pháp Anh, nên trải qua chín phiên tòa xét xử, Người đã không bị dẫn độ về Đông Dương, được tuyên trắng án và trả tự do ngay tại tòa.
Tháng 7-1934, nhờ sự giúp đỡ của bà Tống Khánh Linh(16) , Paul Vaillant Couturier (Pôn Vayăng Cutuyariê)(17) ,... Nguyễn Ái Quốc trở lại Liên Xô. Người đã phải trải qua bước thẩm vấn của Ủy ban điều tra của Quốc tế Cộng sản để chứng minh sự trong sạch, vững vàng của mình trong lao tù. Mặc dù không được dự Đại hội VII Quốc tế Cộng sản với tư cách là đại biểu chính thức, nhưng Người vẫn tích cực tham gia với vai trò đại biểu tư vấn và giúp đỡ các đại biểu Hoàng Văn Nọn, Nguyễn Thị Minh Khai hoàn thành nhiệm vụ.
Trong hoàn cảnh “mình đúng mà bị hiểu sai”, không được phân công công tác, Nguyễn Ái Quốc đã biến cái rủi thành cái may, Người đã miệt mài học tập trong thời gian ba năm học tại Trường Quốc tế Lênin và hai năm làm việc ở Viện Nghiên cứu các vấn đề dân tộc và thuộc địa. Đây chính là thời gian Người nghiên cứu chủ nghĩa Mác-Lênin một cách hệ thống và bài bản. Nhờ có phương pháp khoa học và vốn ngoại ngữ cần thiết, Người đã nắm vững các nguyên lí cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin. Điều này là cơ sở để Người áp dụng một cách sáng tạo khi vận dụng học thuyết này vào điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của cách mạng Việt Nam sau này.
Tám năm trong thời kỳ 1930-1938 là tám năm Nguyễn Ái Quốc kiên trì vượt qua thử thách, giữ vững con đường đã chọn cho cách mạng Việt Nam. Tám năm đó thể hiện bản lĩnh kiên trung của người cộng sản, luôn chấp hành triệt để nguyên tắc tập trung dân chủ, luôn đặt lợi ích của Đảng, của dân tộc lên trên hết và trước hết.
Trước sự điên cuồng tấn công của chủ nghĩa phát xít, dần dần những người theo chủ nghĩa tả khuynh của Quốc tế Cộng sản cũng nhận ra chân lý: Cần mở mặt trận nhân dân toàn thế giới. Hội nghị những đồng chí chủ chốt của Ban Chấp hành Trung ương và Ban Chỉ huy ở ngoài của Đảng họp ở Thượng Hải tháng 7-1936 cũng nhận thấy sai lầm tả khuynh trong những năm qua và kết luận cần phải chuyển hướng chỉ đạo chiến lược và thay đổi sách lược. Hội nghị chỉ rõ: “Chiến sách của Đảng là nhận rõ ai là kẻ địch nhân nguy hiểm nhất trong lúc hiện thời nhất định sẽ tập trung ngọn lửa vào đó mà đánh”(18) .
Ngày 6-6-1938, Nguyễn Ái Quốc gửi thư cho một đồng chí lãnh đạo của Quốc tế Cộng sản, bày tỏ nguyện vọng thiết tha: “Đồng chí hãy phân tôi đi đâu đó. Hoặc giữ tôi ở lại đây. Hãy giao cho tôi làm một việc gì mà theo đồng chí là có ích”(19) . Nguyện vọng của Nguyễn Ái Quốc được bà Vaxiliêva, Trưởng Phòng Đông Dương của Ban Phương Đông tán thành và đề đạt ý kiến lên Ban Bí thư Quốc tế Cộng sản: “Đồng chí Lin là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương, là người có uy tín lớn trong Đảng Cộng sản Đông Dương, nay từ đây về thì Đảng sẽ chăm chú lắng nghe những ý kiến của đồng chí ấy”(20) .
Được Quốc tế Cộng sản đồng ý, tháng 9-1938, Nguyễn Ái Quốc rời Liên Xô và lập tức lên đường về nước qua Trung Quốc. Sau gần hai năm bắt liên lạc với các cơ sở Đảng trong nước, ngày 28-1-1941, Nguyễn Ái Quốc đã về tới thôn Pác Bó, xã Trường Hà, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng.
.jpg)
Bác Hồ về nước ngày 28-1-1941. Tranh: Trịnh Phòng
Nếu như tại Hội nghị Trung ương tháng 7-1936, tiếp đến là tại Hội nghị Trung ương tháng 11-1939, Trung ương đã tiếp cận với tư tưởng của đồng chí Nguyễn Ái Quốc trong việc cần phải thay đổi sách lược cách mạng, thì Hội nghị Trung ương tháng 11-1940 lại quay trở lại với quan điểm đầu năm 1930 khi cho rằng, nếu không làm được cách mạng thổ địa thì cách mạng phản đế khó thành công. Nghị quyết Hội nghị Trung ương tháng 11-1940 viết: “Cách mạng phản đế và cách mạng thổ địa phải đồng thời tiến, không thể cái làm trước cái làm sau”(21) .
Nghị quyết viết: “Trong lúc này quyền lợi của bộ phận, của giai cấp phải đặt dưới sự sinh tử, tồn vong của quốc gia, của dân tộc. Trong lúc này nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập , tự do cho toàn thể dân tộc, thì chẳng những toàn thể quốc gia, dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ phận, giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được”(22) .
Tháng 5-1941, tại Pác Bó, Nguyễn Ái Quốc đã triệu tập và chủ trì Hội nghị Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương lần thứ Tám. Hội nghị đã dứt khoát xác định: “Cần phải thay đổi chiến lược”(23) , phải xem nhiệm vụ giải phóng dân tộc, độc lập cho đất nước là một nhiệm vụ trước tiên của Đảng ta và của cách mạng Đông Dương. Hội nghị chủ trương tiếp tục tạm gác khẩu hiệu đánh đổ địa chủ, chia ruộng đất cho dân cày, thay bằng khẩu hiệu tịch thu ruộng đất của bọn đế quốc và Việt gian chia cho dân cày nghèo, chia lại công điền cho công bằng, giảm địa tô, giảm tức, thủ tiêu thuế điền.

Lán Khuổi Nậm ở Pác Bó, xã Trường Hà, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng, nơi họp Hội nghị Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương lần thứ Tám (tháng 5-1941), quyết định đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu và thành lập Mặt trận Việt Minh. Ảnh: Bảo tàng Hồ Chí Minh.
Với nghị quyết cần phải thay đổi chiến lược, tạm gác nhiệm vụ đấu tranh đòi ruộng đất, Trung ương Đảng đã hoàn toàn thống nhất với tư tưởng của Nguyễn Ái Quốc đã nêu ra tại Hội nghị thành lập Đảng năm 1930, tức là cách mạng Việt Nam nhất định phải tiến hành hai nhiệm vụ dân tộc (giải phóng dân tộc) và dân chủ (ruộng đất), nhưng việc thực hiện không nhất loạt ngang nhau, việc tiến hành nhiệm vụ dân chủ phải phụ thuộc vào nhiệm vụ dân tộc. Từ đây về sau, tư tưởng giữa Trung ương và Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh thống nhất là một.
Để huy động được đông đảo lực lượng nhân dân tham gia sự nghiệp đấu tranh giải phóng, Hội nghị Trung ương lần thứ tám quyết định thành lập Mặt trận Việt Nam Độc lập Đồng minh, gọi tắt là Việt Minh. Nhờ chính sách đúng đắn, hợp lòng dân, cách tuyên truyền, vận động khéo léo, mặt trận Việt Minh đã phát triển nhanh chóng không chỉ ở Cao Bằng mà lan rộng ra khắp cả nước, mau chóng trở thành lực lượng có tổ chức mạnh mẽ của Đảng.
Tháng 8-1942, với danh xưng mới là Hồ Chí Minh, Nguyễn Ái Quốc đã đi Trung Quốc dự kiến làm việc với Đảng Cộng sản Trung Quốc và đại diện quân Đồng minh. Nhưng Người đã bị quan quân Quốc dân Đảng bắt giam trái phép và giữ lại ở Trung Quốc hơn hai năm, tháng 9-1944, Người mới được về nước. Tháng 10 năm 1944, Người ký tên Hồ Chí Minh viết thư gửi đồng bào toàn quốc, dự báo rằng: “Cơ hội cho dân tộc ta giải phóng chỉ ở trong một năm hoặc năm rưỡi nữa. Thời gian rất gấp. Ta phải làm nhanh!”(24) .
Tháng 8-1945, khi thời cơ trong nước và quốc tế thuận lợi, với thực lực là lực lượng Việt Minh áp đảo, Đảng Cộng sản Đông Dương đã nhanh chóng phát động Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước. Bàn về việc này, Giáo sư sử học Trần Văn Giàu, nguyên Bí thư Xứ ủy Nam bộ nhận xét: “Không có sự chuyển hướng do Cụ Hồ đề nghị, thì không có Mặt trận Việt Minh, mà không có Mặt trận Việt Minh thì không có Cách mạng Tháng Tám”(25) .
Như thế, tính từ ngày Người về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng, chỉ trong vòng năm năm (1941-1945), nhưng đã mất hai năm trong lao tù Quốc dân Đảng Trung Quốc, Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đã lãnh đạo nhân dân đấu tranh giành thắng lợi. Ngoài việc sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1930, Người còn có ba sáng lập vĩ đại đối với lịch sử Việt Nam đó là: Sáng lập Mặt trận Dân tộc thống nhất năm 1941; Sáng lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân (tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam) năm 1944 và Sáng lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa năm 1945. Đây là cơ sở gốc để Người thực hiện khát vọng về một đất nước độc lập, tự do.
34 năm từ năm 1911 đến năm 1945 là một thời gian không dài trong cuộc đời 79 mùa Xuân của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhưng là 34 năm quyết định đối vận mệnh dân tộc Việt Nam. Trong 34 năm ấy, tuy Người không tự nhận, nhưng lịch sử đã trao cho Người các danh hiệu vinh quang: Người yêu nước, người cộng sản, lãnh tụ rồi Chủ tịch nước. Trong 34 năm ấy, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành không chịu lặp lại con đường không thành công của các bậc tiền bối, quyết định sang phương Tây tìm đường cứu nước. Rồi nhờ hòa mình vào cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản, tiếp thu được ánh sáng của Cách mạng Tháng Mười, Người đã trở thành người cộng sản Nguyễn Ái Quốc. Từ đây, Người đã tích cực truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin về Việt Nam, tạo tiền đề cho sự ra đời của các tổ chức cộng sản và khi lịch sử yêu cầu, bằng uy tín của mình, Người đã thống nhất ba tổ chức cộng sản, thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, trở thành lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc. Nhưng mục đích của Người không dừng lại ở đó. Người tiếp tục cùng Trung ương Đảng lãnh đạo nhân dân Việt Nam trải qua ba thời kỳ cách mạng 1930-1931, 1936-1939 và 1939-1945. Nhờ quá trình liên tục củng cố cơ sở Đảng và xây dựng lực lượng quần chúng, tháng 8-1945, khi thời cơ tới, Người cùng Trung ương Đảng lãnh đạo toàn dân Tổng khởi nghĩa giành chính quyền, thành lập chính quyền dân chủ nhân dân.
Với sự ra đời của nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, sứ mệnh tìm đường cứu nước và lập nước của Người đã thành công, Người trở thành Chủ tịch Hồ Chí Minh. Từ đây, dân tộc Việt Nam bước vào kỷ nguyên mới, kỉ nguyên độc lập, tự do.
Nhân kỉ niệm 115 năm Ngày người thanh niên Nguyễn Tất Thành ra đi tìm đường cứu nước, trong không khí cả nước vui tươi, phấn khởi mừng Đảng Cộng sản Việt Nam tổ chức Đại hội đại biểu lần thứ XIV thành công, mỗi người Việt Nam càng nhớ đến Bác Hồ, càng trân trọng cơ đồ Người đã đem lại cho dân tộc, càng có niềm tin để hướng về khát vọng đất nước dân giàu, nước mạnh, dân chủ, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc như Đại hội XIV đã vạch ra./.
TS. Chu Đức Tính
Đặc san Thông tin tư liệu Bảo tàng Hồ Chí Minh, Số 72. Tháng 5/2026
---------------------------------
1. Viện Hồ Chí Minh, Nghiên cứu Tư tưởng Hồ Chí Minh, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1993, tập 3, tr. 6.
2. Trần Dân Tiên, Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, Nxb. Thanh niên, Hà Nội, 2012, tr. 14.
3. Nay là xã Hàm Liêm, tỉnh Lâm Đồng.
4. Trần Dân Tiên, Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, Sđd, tr. 15.
5. Bản sao bút tích Đơn xin học của Nguyễn Tất Thành trưng bày tại Bảo tàng Hồ Chí Minh.
6. Hồ Chí Minh - Biên niên tiểu sử, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2016, tập 1, tr. 287.
7. Hồ Chí Minh - Biên niên tiểu sử, Sđd, tập 1, tr. 47.
8. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tập 12, tr. 740.
9. Hồ Chí Minh - Biên niên tiểu sử, Sđd, tập 1, tr. 115.
10. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, tập 1, tr. 40.
11. Hồ Chí Minh - Biên niên tiểu sử, Sđd, tập 1, tr. 86.
12. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, tập 2, tr. 296.
13. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, tập 2, tr. 292.
14. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, tập 3, tr. 1.
15. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, tập 12, tr. 406.
16. Tống Khánh Linh (1893-1981) là phu nhân của Tôn Trung Sơn. Bà là một nhân vật chính trị lỗi lạc được mệnh danh là “Người mẹ của Trung Quốc hiện đại”. Bà là một trong ba chị em họ Tống nổi tiếng, từng giữ chức Phó Chủ tịch nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Bà được kính trọng vì tư tưởng kiên cường và đóng góp cho hòa bình.
17. Paul Vaillant Couturier (1892-1937): là một chính trị gia, nhà văn và nhà báo người Pháp, nổi tiếng với vai trò là một trong những nhà sáng lập và lãnh đạo hàng đầu của Đảng Cộng sản Pháp.
18. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2010, tập 6, tr. 141.
19. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, tập 3, tr. 117.
20. Viện Lịch sử Đảng, Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Tập I (1930-1954), Quyển I (1930-1945), Nxb. Chính trị quốc gia Sự thât, Hà Nội, 2018, tr. 365.
21. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, tập 7, tr. 68.
22. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, tập 7, tr. 113.
23. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, tập 7, tr. 118.
24. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, tập 3, tr. 158.
25. Chu Đức Tính, Bước chuyển căn bản, có lợi cho cách mạng Việt Nam, theo website www.qdnd.vn.